Thứ Bảy , 19 Tháng Tám 2017
Trang chủ » Pháp luật » Chính sách » Tác động của cam kết trong wto và các fta với thị trường xăng dầu việt nam và cơ cấu thu ngân sách

Tác động của cam kết trong wto và các fta với thị trường xăng dầu việt nam và cơ cấu thu ngân sách

I.Những cam kết hội nhập mà Việt Nam đã tham gia.

Cho đến nay, ngoài việc trở thành thành viên WTO (tháng 1 năm 2007) Việt Nam đã ký kết hoặc đã kết thúc đàm phán 11 FTA, song phương và khu vực (không tính TPP). 11 HĐ này gồm:

-Hiệp định Mậu dịch tự do ( MDTD) ASEAN,

-Hiệp định MDTD ASEAN-Trung Quốc,

-Hiệp định MDTD ASEAN-Nhật Bản,

-Hiệp định MDTD ASEAN-Hàn Quốc,

-Hiệp định MDTD ASEAN-Úc, Newzealand,

-Hiệp định MDTD ASEAN-Ấn Độ.

-Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam Nhật Bản (JVFTA),

-Hiệp định MDTD Việt Nam-Chi Lê,

-Hiệp định MDTD Việt Nam-Hàn Quốc (VKFTA),

-Hiệp định MDTD Việt Nam-Liên minh Á-Âu (gồm  Nga, Kazacstan, Belarus, Acmenia, và Kyrskistan),,

-Hiệp định MDTD Việt Nam-Liên minh Châu ÂU (EVFTA).

Trong đó, EVFTA (cùng với TPP) là những hiệp định MDTD thế hệ mới có những đặc điểm sau:

 -Tiếp cận thị trường toàn diện, cả về thương mại hàng hóa, cả về dịch vụ,  đầu tư, có cơ chế giám sát thực thi chặt chẽ, chế tài xử phạt nhiêm ngặt nếu vi phạm cam kết..

-Cam kết mang tính khu vực, qua đó thúc đẩy thương mại nội khối, hình thành chuỗi sản xuất và cung ứng trong khu vực.

-Giải quyết những thách thức mới trong nền kinh tế đương đại. TPP khuyến khích đổi mới, sáng tạo và cạnh tranh công bằng, phát triển kinh tế số, thiết lập quy tắc hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, giải quyết những vấn đề lao động và môi trường

-Thúc đẩy phát triển của tất cả các nước. TPP, bảo đảm cho các nền kinh tế thành viên ở mọi cấp độ phát triển, mọi doanh nghiệp dù ở quy mô nào cũng có thể hưởng lợi từ thương mại.

-EVFTA và TPP  quan tâm đến hỗ trợ nâng cao năng lực để tất cả các bên có thể thực hiện đươc cam kết và tận dụng được cơ hội mà Hiệp định mang lại.

-EVFTA và TPP tôn trọng thể chế chính trị của mỗi nước, thừa nhận yêu cầu tuân thủ đầy đủ pháp luật quóc gia phù hợp với nội dung cam kết; có sự linh hoạt nhất định về lộ trình thực hiên cam kết phù hợp với sự khác biệt về trình độ phát triển của các thành viên.

-Tạo nền tảng cho hội nhâp khu vực do là một Hiệp định mở, EVFTA hướng đến một HĐ MDTD khu vực-khu vực giũa EU và ASEAN (EAFTA), TPP tạo cơ hội cho các thành viên trong khu vực Châu Á –Thái Bình Dương tham gia.

  1. Mức độ cam kết của các hiệp định trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.

Trong WTO cũng như trong các hiệp định MDTD, về cơ bản nội dung cam kết gồm các  phần chính: Cam kết về thể chế, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật, SPS, mở của thị trường về đầu tư (bao gồm đầu tư vào sản xuất và dịch vụ), mở của thị trường hàng hóa (cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan), chế tài thực thi: giám sát thực hiện và xử phạt khi vi phạm (phần này cũng có thể đặt vào nội dung thể chế).

1.Các cam kết về thể chế.

1/ các cam kết chung:

Tất cả các cam kết trong WTO và các FTA về nội dung thể chế có các yêu cầu chung là (i) Công khai minh bạch hệ thống pháp luật và các cơ chế chính sách để người dân và doanh nghiệp có thể tiên liệu được, nhằm giảm thiểu rủi ro cho DN, giúp DN xây dựng chiến lược dài hạn, nâng cao hiệu quả kinh doanh; bắt buộc công bố công khai dự thảo trước khi ban hành (thường là 6 tháng) để mọi người dân, doanh nghiệp có thể đóng góp ý kiến xây dựng các quy định đó. (ii)Cạnh tranh công bằng. Doanh nghiệp nhà nước cũng phải hoạt động theo tiêu chí thương mại(iii) Cấm trợ cấp xuất khẩu và các loại trợ cấp làm méo mó thương mại. (iv) Các quy định về thực thi và giám sát thực thi; cơ chế giải quyết tranh chấp. Ngoài những nội dung chung, mỗi hiệp định lại có những quy định cụ thể. Trong đó, EVFTA (và cả TPP) có cam kết chặt chẽ, cụ thể và sâu rộng nhất.

Vì vậy, trong phần cam kết thể chế trình bày tiếp sau chỉ nêu cam kết trong hiệp định này. cam kết mở của thị trường phân phối là giống nhau còn cam kết về cắt giảm thuế quan là khác nhau theo từng hiệp định.

2/Cam kết về thể chế trong EVFTA.

Ngoài các quy định chung về thể chế như đã nêu trên, để tạo lập thị trường cạnh tranh công bằng, EVFTA quy định rất cụ thể về chính sách cạnh tranh,  DNNN và mua sắm công.

  • DNNN trong EVFTA.

DNNN là  doanh nghiệp (bao gồm công ty con) mà trong đó một Bên trực tiếp hoặc gián tiếp:

(a) sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc quyền biểu quyết gắn với cổ phần do doanh nghiệp phát hành; hoặc (b) có thể bổ nhiệm đa số thành viên hội đồng quản trị hoặc ban điều hành tương tự của doanh nghiệp; hoặc hoặc (c) có thể thực thi quyền kiểm soát đối với các quyết định chiến lược của doanh nghiệp.

Tuy vậy, trong vòng 5 năm đầu, sau khi Hiệp định có hiệu lực chỉ có những  DN trực thuộc Trung ương đạt ngưỡng doanh thu bình quân trong 3 năm liên tiếp trước khi HĐ có hiệu lực đạt mức 200 triệu SDR (đơn vị tiền tệ thực hiên quyền rút vốn đặc biệt của IMF-1 SDR tương đương với 1,5 USD) mới bị  điều chỉnh bới HĐ.

Còn đối với các DNNN thuộc địa phương cùng mức doanh thu thì sau 5 năm mới bị điều chỉnh.

(2)Các nghĩa vụ chính của Chương về doanh nghiệp nhà nước bao gồm: (i) hoạt động theo cơ chế thị trường, nghĩa là doanh nghiệp có quyền tự quyết định trong hoạt động kinh doanh và không có sự can thiệp hành chính của nhà nước, ngoại trừ trường hợp thực hiện mục tiêu chính sách công, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô;

(ii) không có sự phân biệt đối xử trong việc mua bán hàng hóa, dịch vụ đối với những ngành, lĩnh vực đã mở cửa; (iii) minh bạch hóa các thông tin cơ bản của doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

Theo đó, Khi một Bên có cơ sở cho rằng lợi ích của mình bị ảnh hưởng tiêu cực do hoạt động của một DNNN hoặc DN độc quyền Nhà nước thì có quyền yêu cầu bên kia cung cấp thông tin về hoạt động của DN đó có liên quan đến việc thực thi Hiệp định. Các thông tin có thể bao gồm: tỷ lệ cổ phần sở hữu, cổ phiếu đặc biệt, tên và chức danh người được cử vào ban lãnh đạo doanh nghiệp, tổng doanh thu và tổng tài sản, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, các thông tin về sở hữu chéo, thông tin về cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm giám sát và yêu cầu doanh nghiệp báo cáo, các miễn trừ hoặc đối xử ưu đãi dành cho doanh nghiệp.

Về cơ bản, các thông tin được yêu cầu cũng là những thông tin mà DNNN bắt buộc phải công bố theo quy định của pháp luật Việt Nam. DNNN không có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin

được coi là thuộc phạm vi mật hoặc trái với lợi ích công hoặc ảnh hưởng đến lợi ích thương mại hợp pháp của doanh nghiệp.

Các nghĩa vụ đối với doanh nghiệp nhà nước không áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước trong các trường hợp: (i) cung cấp dịch vụ thực hiện chức năng của nhà nước; (ii) hoạt động trong ngành mà không cam kết mở cửa; (iii) thuộc các Bộ Công an, Quốc phòng và có hoạt động liên quan đến an ninh/quốc phòng;  (iv) một số hoạt động khác như khai thác dầu khí, điện, than, tài chính phát triển, v.v.

(3)Nghĩa vụ của Nhà nước.

Trong mối quan hệ với doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước có các nghĩa vụ chính là: (i) không được sử dụng doanh nghiệp nhà nước để lẩn tránh các nghĩa vụ đã cam kết trong Hiệp định; (ii) cơ quan quản lý nhà nước cần phải hành xử vô tư, công bằng đối với mọi doanh nghiệp và không được ưu ái doanh nghiệp nhà nước hơn khi thực thi pháp luật trong các điều kiện tương tự với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

(4) Mua sắm công.

Mua sắm công là mua sắm từ nguồn tiền của NS hoặc mua sắm của các tổ chức thuộc quyền chủ quản của Nhà nước dù không dùng tiền của NS. Khi mua hàng hóa, dịch vụ, các tổ chức này phải thực hiện đấu thầu cạnh tranh.Tuy nhiên, theo cam kết của Việt Nam trong EVFTA không phải tổ chức nào cũng phải đấu thầu và cũng không phải mua ở mức tiền nào cũng phải đấu thầu.

Trong EVFTA, theo thỏa thuận hiện tại, ngoài các cơ quan Chính phủ và một số đơn vị sự nghiệp, trong khu vực DN, Việt Nam chỉ có EVN và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.là đối tượng phải đấu thầu khi mua sắm. Các trường hợp khác sau 5 năm, tính từ ngày Hiệp định có hiệu lực sẽ đàm phán cụ thể để quyết định..

2.Cam kết mở cửa thị trường trong dịch vụ và đầu tư.

Các cam kết hội nhập của nước ta cho đến nay đều không loại trừ đầu tư nước ngoài trong chế biến xăng dầu nhưng không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu cho nhà đầu tư nước ngoài. (trừ dầu nhờn, Gaz, nhựa đường, các sản phẩm hóa dầu khác).

Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lọc dầu, họ có quyền thiết lập mạng lưới phân phối sản phẩm do họ sản xuất ra. Như vậy thị trường trở nên cạnh tranh hơn.

Trên thực tế,  trong thực thi chính sách lại có một bất cập khác: Mặc dầu nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư vào lĩnh vức phân phối xăng dầu nhưng nếu có một DN cung ứng xăng dầu nào muốn tìm một cổ đông chiến lược để huy động vốn, đổi mới quản trị ta cũng không cản, hoặc DN xăng dầu bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhà đầu tư nước ngoài vẫn có quyền mua theo hạn mức quy định (Giống như trường hợp công ty phân phối dược phẩm dù trong WTO và các FTA ta không mở cửa thị trường phân phối thuốc. DN nước ngoài có quyền tham gia đấu thầu bán thuốc vào Việt Nam theo cam kết mua sắm công nhưng khi trúng thầu họ phải qua một nhà phân phối trong nước chuyển thuốc đến đơn vị mua thuốc) nhưng họ lại có thể mua cổ phần của công ty phân phối dược của Việt Nam khi công ty này lên sàn.

3.Cam kết về cắt giảm thuế quan (thuế Nhập khẩu và thuế Xuất khẩu)

Như trên đã nói, cam kết thuế quan là khác nhau trong từng Hiệp định. Trong đó, mức cắt giảm trong WTO là ít nhất.

Vì vậy, trong phần này chỉ đề cập tới lộ trình cắt giảm thuế quan trong các FTA.

1/ Thuế Nhập khẩu:

-Trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (Hiệp định ANTIGA):

+Xăng oto: Từ 2016-2020: 20%, từ 2021-2022: 8%, 2023: 5% và từ 2024 là 0%.

+Diesel: từ 2016 đã là 0%,

+Mazut: từ 2016 đã là 0%

-Trong VKFTA:

+xăng oto từ 2016-2020 là 10%, từ 2021-2028 là 8%.

+Diesel: 2016 là 5%, từ 2018 là 0%

-Trong EVFTA 4 năm sau khi HĐ có hiệu lực, thuế NK xăng oto sẽ giảm xuống 8%, năm thứ 7 xuống 7% năm thứ 11 sẽ là 0%.

Diesel: Năm thứ 9 là 7%, năm thứ 11 là 0%.

Lộ trình cát giảm thuế NK trong các hiệp định khác xem trong bảng kèm theo.

Ở đây có hai vấn đề cần lưu ý:

Thứ nhất, lộ trình cắt giảm thuế và thuế suất cắt giảm là khác nhau trong từng hiệp định.Từ đó, một câu hỏi đặt ra là: Mức thuế trong hiệp định nào sẽ được lấy làm căn cứ hình thành giá bán khi Nhà nước điều chỉnh gia và để tính thuế nhập khẩu mà doanh nghiệp nhập khẩu phải nộp?

Phía doanh nghiệp, vì lợi ích của mình, sẽ nhập khẩu từ thị trường có lộ trình cắt giảm thuế nhanh nhất với thuế suất thấp nhất tại thời điểm nhập khẩu. Điều này hoàn toàn hợp pháp và chính đáng. Năm 2015 Petrolimex có tỷ trọng NK từ các thị trường có thuế suất theo FTA là thấp nhất.Việc làm này của Petrolimex là hợp pháp và chính đáng,

Có ý kiến cần truy thu thuế NK của Tập đoàn này(!)

Đặt vấn đề như vậy là chưa thỏa đáng. Từ năm 2016, Bộ Tài chính định ra mức thuế nhập khẩu bình quân gia quyền từng quý theo khối lượng nhập khẩu của các doanh nghiệp từ các FTA để xác định giá cơ sở làm căn cứ quyết định điều chỉnh giá và như vậy phải lấy số liệu của quý trước áp cho quý sau.

Cụ thể: Thuế NK bình quân quý I theo cách tính của Bộ TC là: Xăng: 10,21%; Diesl là 1,18%.

Thuế NK phải nộp vẫn là nhập từ thị trường nào thì nộp thuế theo thuế suất cam kết trong các hiệp định áp dụng cho thị trường đó (WTO: MFN, các FTA: theo cam kết trong từng FTA).

Ở đây, xuất hiện hai vấn đề:

Thứ nhất, Các DN đều tìm cách NK từ thị trường có thuế suất theo từng mặt hàng là thấp nhất. Cụ thể  nhập xăng từ HQ, vì thuế NK Xăng Ôto trong  VKFTA là 10% từ 2016-2020, mức thấp nhất trong các FTA cho đến nay. Đối với Diesel, các DN đều nhập khẩu từ ASEAN vì theo ANTIGA thuế  NK Diesel đã là 0% từ 2016. Như vậy, rất dễ bị các đối tác ép giá và không loại trừ các doanh nghiêp sẵn sàng trả giá cao hơn để được hưởng mức thuế thấp và người bán nước ngoài hưởng lợi và làm giá bán trong nước bị đẩy lên, người tiêu dùng bị thiệt.  Theo tôi, nên xem xét thêm phương án: Ta chủ động tính thuế theo thị trường có mức thuế NK cam kết thấp nhất ở thời điểm NK dù họ NK từ các thị trường FTA khác. Áp dụng như vậy, Nhà nước tuy có bị giảm thu từ thuế NK (Thuế NK bình quân gia quyền mặt hàng xăng quý I là 10,21%-Thuế suất thấp nhất là 10, Diesel là 1,18%- thấp nhất là 0). nhưng lại tăng thu từ phần thuế thu nhập DN do DN không phải tăng giá mua từ thị trường có thuế suất thấp và việc tính thuế bình quân gia quyền cũng sát đúng hơn.Trong trường hợp cần tăng thu NS, Nhà nước có thể tăng phí hoặc thuế nội địa.

Thứ hai,  Chính phủ cam kết giữ thuế nhập khẩu xăng dầu không thấp hơn 7% để bảo hộ cho Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn trong thời gian 10 năm, tính từ ngày Nhà máy sản xuất thương mại.

Như vậy, nếu năm 2018 Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn đi vào sản xuất thương mại, thì theo thỏa thuận với Nhà máy này, Việt Nam phải giữ thuế NK các mặt hàng xăng dầu ở mức không thấp hơn 7% cho đến hết 2028. Trong khi đó theo ANTIGA, với xăng từ 2023 thuế NK đã xuống: 5% và từ 2024 là 0%. Diesel và Mazut là 0% từ 2016; còn VKFTA, thuế NK Diesel từ 2016 là 5% và từ 2018 là 0%. Riêng  Mazut từ 2016 thuế NK đã là 0% .

Vậy là phát sinh mâu thuẫn giưa cam kết ANTIGA với cam kết Nghi Sơn.

2/ Thuế xuất khẩu.

Trong EVFTA cũng như TPP, các nước đều yêu cầu cắt giảm đi đến loại bỏ theo lộ trình thuế xuất khẩu.Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế XK, trừ dầu thô (nhưng không loại trừ sản phẩm dầu),  than đá và một số quặng kim loại.

Việc cắt giảm thuế XK sẽ làm tăng tính cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu.

III. Tác động của cắt giảm thuế đến nguồn thu Ngân sách.

Việc cắt giảm thuế XK, NK (trong đó có thuế NK xăng dầu) đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu từ thuế XK, thuế NK  vì khối lượng NK lớn, thuế suất những năm đầu còn khá cao, nhất là mặt hàng xăng. Tuy nhiên, đây là xu thế tất yếu của tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hơn nữa việc cắt giảm được thực hiện theo lộ trình, không tạo ra đột biến lớn. Mặt khác, khi giảm thuế NK, giá bán ra thị trường cũng giảm theo, kéo theo chi phí sản xuất, dịch vụ giảm, lợi nhuận DN tăng, góp phần tăng thu NS đồng thời thúc đẩy hoạt động kinh doanh, Nhà nước có thể thu nhiều hơn từ sự gia tăng hoạt động của DN.

Trương Đình Tuyển

Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có thể sử dụng các thẻ HTML và thuộc tính sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>