Thứ Bảy , 18 Tháng Mười Một 2017
Trang chủ » Thời sự » Chăm lo hậu phương của các thương binh, liệt sĩ

Chăm lo hậu phương của các thương binh, liệt sĩ

Năm 1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc chọn ngày kỷ niệm Thương binh Liệt sĩ và bảo vệ công tác thương binh liệt sĩ, tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, (Đại Từ, Thái Nguyên), các đại biểu Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc, Cục Chính trị Quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã nhất trí chọn ngày 27/7 hàng năm làm ngày Thương binh toàn quốc, “đó là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ lòng yêu mến thương binh” (Hồ Chí Minh). Ngay sau đó, ngày 16/8/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL Quy định về chế độ Hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ. Sắc lệnh số 20/SL là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ đối với cuộc chiến đấu trường kỳ của dân tộc Việt Nam, “họ quyết liều chết chống địch để cho tổ quốc và đồng bào sống. Trong đó có người đã bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận, có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ” (Hồ Chí Minh).

Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu
Nghe dịu nỗi đau của Mẹ
Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ
Các anh không về mình mẹ lặng im
(Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn)

chỉ mục

Hơn 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lại chiến tranh bảo vệ biên giới chống quân xâm lược Trung Quốc và Khơ me đỏ, hàng triệu chiến sĩ đã hy sinh, đã mang thương tật suốt đời mình, thậm chí thương tật đó còn kéo dài sang đời con, đời cháu. Để có những ngày hòa bình, non sông thống nhất, cái giá mà dân tộc Việt Nam phải trả là quá lớn. Sự hy sinh, mất mát to lớn đó mang lại vinh quang cho gia đình lớn (dân tộc), mang lại niềm tự hào và cũng là nỗi đau xót cho mỗi gia đình nhỏ, nhưng đó là cái giá cần thiết để dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển, cũng như cha ông ta đã phải trả cho những năm trường đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc.

Chỉ từ năm 1947, Nhà nước ta mới quy định ngày chính thức để ghi nhớ công ơn của các liệt sĩ, thương binh, nhưng đất nước hình chữ S này đã hàng ngàn năm nay luôn phải chiến đấu để giữ gìn giang sơn, giữ gìn mồ mả ông cha. Trong những sách tôi được đọc, chỉ thấy nói nơi này nơi kia lập đền thờ các danh tướng, một vài nơi có đền thờ các chiến sĩ trận vong nhưng chưa thấy nói đến việc các nhà nước phong kiến trước đây (Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê …) có chính sách tri ân những người lính bị thương, hy sinh trong những cuộc chiến chống các đạo quân xâm lược. Uống nước nhớ nguồn là đạo lý của dân tộc Việt Nam, của người Việt Nam. Vì vậy, công lao của tất cả những người, không kể thời đại, giai cấp, tôn giáo, chính kiến… đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, chủ quyền của dân tộc đều cần phải được ghi nhớ, tôn vinh. Chúng ta thường nhắc tới các địa danh làm nên chiến thắng to lớn: Đông Khê, Điện Biên, Bình Long, Cổ thành Quảng Trị…mà ít nhắc tới hoặc có khi quên lãng những mảnh đất khác, nơi mà hàng ngàn, hàng vạn liệt sĩ, thương binh cùng đồng đội đã đổ xương máu, tính mạng, sức trẻ để chiến đấu vì tổ quốc. Việc vinh danh các liệt sĩ là hết sức cần thiết nhưng theo tôi (một cựu chiến binh thời chống Mỹ) thì công tác hậu phương quân đội mới thực sự là quan trọng, là sự đền ơn thiết thực cho những hy sinh, mất mát của những người đã đổ máu xương và cuộc sống cho dân tộc Việt Nam mãi trường tồn. Chúng ta đã từng thấy niềm hân hoan của các chiến sĩ Điện Biên khi nhận được tin người cày có ruộng và nỗi mừng vui của các chiến sĩ ở chiến trường miền Nam khi biết tin cha mẹ, vợ con bình yên, cuộc sống ổn định trong cuộc trường chinh gian khổ. Hậu phương vững chắc, cả trong thời chiến và thời bình, đều là điểm tựa tinh thần lớn lao cho các chiến sĩ. Cùng với sự tôn vinh những chiến sĩ đã đổ máu xương một cách chân thành, thiết thực, không hình thức, phô trương phải là sự chăm lo chu đáo, tận tình, thường xuyên cả về vật chất và tinh thần cho gia đình chiến sĩ, cho những người mẹ, người vợ ở hậu phương, những người mang nặng nỗi đau mất chồng, mất con. Dù những người mẹ, người vợ chiến sĩ không đòi hỏi nhưng việc nhớ ơn, đền đáp phần nào luôn là trách nhiệm, là lương tâm, là tấm lòng của Chính phủ, của nhân dân đối với những người đã khuất.

Nhìn mái tóc mẹ bạc phơ và ánh mắt mẹ như mơ
Là biết mấy chờ mong mỏi mòn…
Mẹ đã có ngàn đứa con, Mẹ đã có cả nước non
Thỏa nỗi những sầu đau tháng ngày
Và chúng con hôm nay như ùa vào lòng mẹ.
(Nhạc sĩ An Thuyên)

Chính những việc tri ân đó sẽ tạo thành sức mạnh vô song của quân đội ta, như lời bài hát “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý:

“Lạ kỳ thay con đi như thế, bỗng khi nào chợt nhớ hậu phương, thì đường đang xa mà đôi chân nên khỏe, trái tim này rực cháy yêu thương”.

Lê Nguyên Hợp

(Tạp chí Xd&Cs)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có thể sử dụng các thẻ HTML và thuộc tính sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>