Thứ Hai , 16 Tháng Tư 2018
Trang chủ » Thời sự » Mượn tiền, tắt máy bỏ trốn có phạm tội?

Mượn tiền, tắt máy bỏ trốn có phạm tội?

Lừa dối bằng mọi cách để mượn được tiền, sử dụng sai mục đích sau đó bỏ trốn là hành vi vi phạm pháp luật, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tháng 4 năm 2014 em có cho một người bạn mượn 2 triệu để đi công tác, nhưng sau đó em mới biết là người đó nói dối vay tiền để đi du lịch. Sau khi biết được sự việc, em có đòi lại tiền nhưng người này không trả; ngoài ra, người này còn khóa máy, chặn cuộc gọi và không dùng số điện thoại cũ để em không thể liên lạc được. Khi cho mượn tiền em không có ghi âm hay giấy tờ gì, nhưng trong quá trình đòi tiền em có ghi âm lại nội dung người này nợ em số tiền trên. Xin hỏi, trường hợp này, em phải làm gì? Người đó có phạm tội gì không?

Mượn tiền, tắt máy bỏ trốn có phạm tội?
Mượn tiền, tắt máy bỏ trốn có phạm tội?

Luật sư tư vấn:

Theo các quy định tại Điều 139 và Điều 140 của Bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì:

– Nếu ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho bạn tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt chỉ cần từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Nếu việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm, sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất, không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ…thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trường hợp này thì giá trị của tài sản bị chiếm đoạt phải từ 4 triệu đồng trở lên hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Như vậy hành vi mà bạn của bạn thực hiện sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật hình sự.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể gửi đơn tố cáo kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan như đoạn ghi âm đến cơ quan công an cấp huyện nơi xảy ra hành vi để được giải quyết.

Trần Lê An Nguyên

Nguồn: Chuyên mục tư vấn pháp luật miễn phí do hãng luật Giải Phóng thực hiện