Thứ Hai , 18 Tháng Mười Hai 2017
Trang chủ » Nổi bật » GIAI THOẠI VỀ MỘT ĐẠI CÔNG THẦN NHÀ NGUYỄN : ĐÀO DUY TỪ

GIAI THOẠI VỀ MỘT ĐẠI CÔNG THẦN NHÀ NGUYỄN : ĐÀO DUY TỪ

Trong 9 đời Chúa và 13 đời Vua nhà Nguyễn (1558-1945), đệ nhất Khai quốc công thần chính là Đào Duy Từ, dù ông chỉ có 8 năm phò chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, khi đã 54 tuổi. Ông quê ở làng Vân Trai, xã Hoa Trai, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoa (nay là làng Giáp Nỗ, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Đào Duy Từ có tiếng là thông minh, học rộng biết nhiều. Tuy thế, Đào Duy Từ không được đi thi do thời đó, kép hát được cho là “xướng ca vô loài” mà cha của ông là quản giáp một phường chèo. Tiếc tài học của con, mẹ ông đã nhờ vả viên xã trưởng cho đổi họ Đào thành họ Vũ (theo họ mẹ) để đi thi Hương. Năm 21 tuổi (1593), ông đỗ Á nguyên khoa thi Hương. Đến kỳ thi Hội, bài luận của Đào Duy Từ rất xuất sắc. Thế nhưng, viên xã trưởng không ép duyên được mẹ Đào Duy Từ nên đã tố cáo việc khai man xuất thân. Ông bị lột mũ áo, tước bỏ giải Á nguyên rồi bị tống giam. Mẹ ông uất ức nên tự vẫn. Đào Duy Từ vừa mất mẹ vừa hỏng thi nên mang nhiều nỗi uất hận trong lòng. Ông phải mai danh ẩn tích nhiều năm.

1434408602-gprmh1__xzvc
ĐẠI CÔNG THẦN NHÀ NGUYỄN : ĐÀO DUY TỪ

Từ một người thuộc tầng lớp đáy của xã hội, ông đã nỗ lực vươn tới bậc đệ nhất công thần khai quốc. Có khá nhiều giai thoại về ông.

Giai thoại thứ Nhất kể rằng: Khi được Vua Lê triệu về Đông Đô (Hà Nội ngày nay), được nghe Thái phó Nguyễn Hữu Liêu (là người chấm thi Hội) kể về bài thi Hội của Đào Duy Từ, biết được tài và chí của ông, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã đến gặp và mời Đào Duy Từ vào Nam giúp giập. Nhưng nhiều năm sau, ông mới trốn được vào Nam hòng khuông phò Chúa Nguyễn. Khi mới vào Nam, Đào Duy Từ phải xin đi chăn trâu  thuê cho một nhà giàu ở Bình Định. Chủ nhà là người thích văn học nên đã lập ra Tùng châu thi xã để tập hợp các danh nhân, thi sĩ trong vùng. Một lần, kẻ chăn trâu tóc đã pha sương bị chủ nhân quở trách khi mải đứng nghe các danh sĩ luận bàn về thi thư. Cuộc vấn đáp đầy bất ngờ giữa chủ tớ khiến mọi người bàng hoàng, kinh ngạc:

– Phận tôi tớ, chăn trâu biết gì mà đứng nghe lời cao luận của các nho sĩ, danh gia ?

– Bẩm, có chăn trâu hèn hạ, có chăn trâu anh hùng. Cũng như có nhà nho tiểu nhân, có bậc nho quân tử.

– Thế nào là nho quân tử? thế nào là nho tiểu nhân?

– Bẩm, nho quân tử là kẻ học rộng đức dày, có tài kinh bang tế thế. Ngoài có thể khiến dân giàu nước mạnh, cương thổ mở mang. Trong đủ trí tuệ tham mưu giúp minh quân an dân, giữ nước. Ví như Hưng Đạo Vương nhà Trần, Khương Tử Nha nhà Chu, Khổng Minh thời hậu Hán… Còn nho tiểu nhân là những kẻ lấy học từ chương làm mồi câu danh lợi. Thời thanh bình thì vểnh râu tôm tự đắc, ăn trước ngồi trên. Gặp vận nước nhiễu nhương lại thụt đầu rùa nhu nhược, than dài thở vắn. Ví như bọn Vương Diễn đời Tấn, An Thạch thời Tống đem thơ văn mị thời, lỡm thế.

– Còn thế nào là chăn trâu anh hùng, khác gì chăn trâu hèn hạ ?

– Bẩm, chăn trâu anh hùng như Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn an dân, dựng nên vương nghiệp; như Ninh Thích giúp Hoàn Công thịnh vượng được nước Tề; như Hứa Do đứng bên khe nước chảy, bàn hết lẽ thịnh suy ngoài cuộc thế. Còn kẻ chăn trâu hèn hạ thì khát uống, đói ăn. Ngày ra đồng hát nghêu ngao vài ba câu nhảm nhí. Đêm ngủ vô tư lự, sao hiểu nổi lý huyền vi trong thiên hạ…

Qua đối đáp, Phú ông biết Đào Duy Từ là người có tài nên đã tiến cử ông với quan Khám lý Trần Đức Hòa. Vì mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hòa đã gả con gái cho ông.

Lời bình: Giai thoại về chuyện Nguyễn Hoàng đến gặp và mời Đào Duy Từ vào Nam có điểm khá đáng ngờ vì từ khi gặp nhau, khoảng sau năm 1553, tới khi Đào Duy Từ vào Nam gặp chúa Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627, tính ra tới hơn ba chục năm trường. Nếu ông Đào đã quyết tâm vào Nam tìm chúa để thờ thì đâu phải mất tới từng đó thời gian, trong khi các năm 1558 và 1600, Nguyễn Hoàng đã nhiều phen đưa bản bộ tướng sĩ Thanh Nghệ và họ hàng, dân chúng ở Thanh Hoa vào trấn thủ Thuận Hóa. Chỉ có thể lý giải là thời gian này Đào Duy Từ ẩn danh chờ thời vì lúc đó thế lực nhà Nguyễn mới manh nha, chưa dám ra mặt chống đối chúa Trịnh. Chúa Nguyễn chưa bị chúa Trịnh đánh dẹp vì chúa Trịnh vẫn phải lo phòng bị  nhà Mạc đang trấn giữ phía Bắc. Đào Duy Từ chờ thời và cũng chờ để tìm đúng minh chủ.

Giai thoại thứ Hai kể rằng: Năm Đinh Mão (1627), Khám lý Trần Đức Hòa đem bài Ngọa Long cương vãn cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên xem, và nói: Bài này là do thầy đồ của nhà tôi là Đào Duy Từ làm. Đọc Ngọa Long cương vãn, Chúa Sãi biết Đào Duy Từ là người có chí lớn liền cho gọi Duy Từ đến. Mấy hôm sau, Đào Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Nguyễn Phúc Nguyên. Thấy Chúa Nguyễn chỉ mặc áo lụa trắng sơ sài và đứng cửa ngách đợi, Duy Từ dừng lại không vào. Thấy vậy, Chúa Sãi liền thay đổi triều phục, áo mũ chỉnh tề rồi mở cửa lớn, ra đón Đào Duy Từ vào nói chuyện. Đào Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời, việc thời thế. Chúa Nguyễn mừng lắm, liền họp đình thần, phong cho Đào Duy Từ làm Nha úy Nội tán, tước Lộc Khê hầu, trông coi việc quân cơ, tham lý quốc chính.

 Dao Duy Tu 1

Lời bình: Người tài thường trọng lễ nên ngày xưa mới có chuyện bái sư, bái tướng của các vua chúa. Việc Chúa Nguyễn đón Đào Duy Từ với áo đơn, cửa ngách không phải là cách trọng tài cầu hiền của người xưa. Đào Công không vào là tự trọng rất cao. Có thể đây là cách thử người của chúa Sãi và vì vậy mà Chúa Sãi rất tôn trọng Đào Công. Đào Duy Từ tìm được minh chủ, Chúa Nguyễn có được tôi hiền phải kể tới con mắt tinh đời của phú ông Bình Định, của Khám lý Trần Đức Hòa đã nhìn thấy bên trong hòn đá cuội với thân phận tôi tớ bọt bèo là một viên kim cương, nên đã phá bỏ lệ thường coi khinh người nghèo hèn để hậu đãi và tiến cử ông.

Giai thoại thứ Ba kể rằng: Năm 1627, Chúa Trịnh Tráng muốn đánh lấn vào Nam bèn sai người đi Thuận Hóa, mang tiếng là phong tước cho Chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét nội tình Đàng Trong. Quân sư Đào Duy Từ khuyên Chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận tấn phong để hòa hoãn với Chúa Trịnh. Năm 1630, Đào Duy Từ cho người làm một mâm đồng hai đáy bên trong đựng sắc phong của Chúa Trịnh, trên phủ lụa vàng rồi sai Trần Văn Khuông đi sứ. Trần Văn Khuông theo lời Đào Duy Từ dặn dò, đối đáp, dâng mâm cho chúa Trịnh, rồi kiếm cớ trốn về. Chúa Trịnh thấy sứ đoàn đi vội, sinh nghi, bèn cho kiểm tra mâm đồng thì thấy tờ sắc phong kèm bài thơ:

Mâu nhi vô dịch

Mịch phi kiến tích

Ái lạc tâm trường

Lực lai tương địch!

Cả Triều không ai hiểu. Chúa Trịnh cho mời Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đến hỏi thì mới vỡ lẽ. Chiết tự chữ Hán, chữ mâu viết không có dấu phẩy thì thành chữ . Chữ mịch bỏ chữ kiến là chữ bất. Chữ ái viết thiếu chữ tâm thì ra chữ thụ. Chữ lực để cạnh chữ lai sẽ thành chữ sắc. Như vậy, bốn câu trên là: dư bất thụ sắc (Ta không nhận sắc). Chúa Trịnh hiểu ý, nổi giận cho người đuổi theo sứ đoàn chúa Nguyễn thì cả sứ đoàn đã đi thoát.

Lời bình: Chi tiết Chúa Trịnh mời Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan giải đoán bài thơ là không chính xác vì việc này xảy ra năm 1630 trong khi Trạng Bùng đã mất từ năm 1613 (Phùng Khắc Khoan: 1528-1613). Bên Tàu, thời Tam quốc cũng có chuyện tương tự: Quan Chủ bạ của Tào Tháo là Dương Tu, cũng bằng phương pháp chiết tự, đã giải được nghĩa 8 ẩn ngữ của Thái Ung:“Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cửu” là “Tuyệt diệu hảo từ”. Chỉ cần nhìn thấy sắc phong bị trả lại là Chúa Trịnh cũng đủ hiểu ý “bất thụ sắc” của Chúa Nguyễn. Việc giải nghĩa bài thơ kia có thể chỉ là để Chúa Trịnh muốn  hiểu rõ ràng hơn ý đồ của Chúa Nguyễn mà thôi ?Và ai giải nghia ẩn giấu của bài thơ này cho chúa Trịnh thì đến nay vẫn chưa biết.

Giai thoại thứ Tư kể rằng:  Năm Canh Ngọ 1630, Đào Duy Từ xướng xuất việc đắp lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình để phòng thủ. Nhờ đó, Chúa Nguyễn đã đánh thắng Chúa Trịnh trong lần “Trịnh Nguyễn phân tranh” lần thứ hai. Qua năm sau (Tân Mùi 1631), ông lại chỉ huy đắp thêm một lũy chạy dài từ cửa bể Nhật Lệ đến núi Đầu Mâu ở Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (gọi là Lũy Thầy). Nhờ có hai trường lũy trên, Chúa Nguyễn đã ngăn chặn được quân Trịnh trong bảy lần giao tranh, trong đó có năm lần giao tranh sau khi Đào Duy Từ đã mất. Chúa Trịnh thấy Chúa Nguyễn trả lại sắc phong bằng một mưu kế tài tình, lại thất bại trong hai lần giao tranh bèn cho dò la và biết được đều do Đào Duy Từ bày mưu. Chúa Trịnh tìm cách lôi kéo ông bỏ Chúa Nguyễn về với triều đình Lê – Trịnh. Chúa Trịnh sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ kèm một bức thư có bốn câu thơ:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay”

Hiểu thâm ý của Chúa Trịnh, Đào Duy Từ cũng dùng thơ đáp lại:

“Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?… ”

Không nản lòng, Chúa Trịnh vẫn cho người mang báu vật vào dụ nhưng Đào Duy Từ kiên quyết:

“Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”
tukechantrau

Lời bình: Bài thơ như lời của hai người trai gái đối đáp nhau. Câu chuyện tình duyên này trong nhân gian thuở nào cũng có. Rất có thể là vì nhân dân ngưỡng mộ lòng trung với Chúa Nguyễn của Đào Duy Từ mà ghép chuyện của đời ông với những câu thơ ý nhị này thành một giai thoại, nhẹ nhàng mà kiên quyết. Đi hay ở lại phò Chúa là câu chuyện nghiêm túc nhưng qua tình cảm yêu mến, ngưỡng mộ của nhân dân đối với Đào Duy Từ mà lòng trung trinh của ông đã trở thành câu chuyện thơ đẹp.

Chỉ trong 8 năm (1627-1634) phò Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên giữ vững cơ nghiệp ở Đàng Trong, chặn được quân Trịnh là vì Đào Duy Từ đã tiến cử và giỏi trọng dụng hiền tài (Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến); khéo huấn luyện quân sĩ, đắp hệ thống lũy Thầy, lũy Trường Dục, sử dụng khéo léo thuật đánh vào lòng người “mưu phạt tâm công”.

Đào Duy Từ còn lập được nhiều công lớn:  Mở đất phương Nam làm cho Đàng Trong phồn thịnh. Xây dựng một định chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn lưu truyền chín đời Chúa, mười ba đời Vua. Tác phẩm “Hổ trướng khu cơ”, Nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc tuồng Sơn Hậu là những kiệt tác và di sản văn hóa vô giá của ông để lại cho đời sau.

Sinh thời, sau lúc ông mất và mãi đến ngày nay nhân dân ta vẫn coi Đào Duy Từ là người Thầy đức độ, tài năng, là bậc kỳ tài muôn thuở.

Lê Nguyên Hợp

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có thể sử dụng các thẻ HTML và thuộc tính sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>