Thứ Bảy , 23 Tháng Mười Hai 2017
Trang chủ » Nổi bật » Xin ai đừng để lá trầu vàng

Xin ai đừng để lá trầu vàng

Những vườn cau, những giàn trầu dần lùi xa thành thị, dần lui lên vùng cao, nhưng với các dân tộc Việt, dù ở thị thành hay nông thôn, dù ở đồng bằng hay núi cao, dù ở xa xôi xứ người thì văn hóa trầu cau với ý nghĩa nhân văn giàu có vẫn mãi trường tồn

moi trau

Về Bắc Ninh, không phải chờ đến Hội Lim, du khách cũng được nghe câu Quan họ “Mời trầu” ý nhị, tha thiết của các liền chị, liền anh:

                                          “Ăn một miếng trầu/Gặp đây ăn một miếng trầu

                                   Không ăn cầm lấy/không ăn cầm lấy cho nhau vừa lòng

                                                       Trầu này trầu tính trầu tình

                                                     Ăn vào cho đỏ môi mình môi ta”

Nhìn những miếng trầu cánh phượng, như thấy được sự khéo léo, kỹ càng, như cảm được tình của người têm trầu, mời trầu. Ăn trầu là một tập tục có ở nhiều nước châu Á. Người Việt đã ăn trầu từ rất lâu, từ thời Hùng Vương (theo truyện cổ Sự tích trầu cau) hay từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn (như kết quả khảo cổ ở núi Nấp, Thanh Hóa).

Mới cách đây ít năm thôi, trong các dịp xã giao hay lễ hội, miếng trầu vẫn là đầu câu chuyện. Người ta mời nhau ăn một miếng trầu rồi mới bắt đầu tâm sự, hàn huyên. Nhìn miếng trầu biết người têm nó, qua hình dáng, qua cách gấp lá, cài cánh trầu. Ăn miếng trầu biết tính nết, sở thích người têm nó: Nồng nàn, đậm đà, cầu kỳ hay ngược lại, biết qua loại vôi, lượng vôi, qua  cách chọn vỏ, chọn lá trầu. Thậm chí, khi mời trầu người ta cũng có thể tỏ thái độ yêu, ghét với người đối diện:

  “Thương nhau cau sáu bổ ba

 Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”

Với người Việt Nam, dựng vợ gả chồng là một trong ba việc trọng đại của đời người, dịp cưới hỏi không thể thiếu lễ trầu cau. Nhà sang, đám cưới lớn thì quả lễ sắp buồng cau trăm trái, trầu trăm lá. Đám cưới đơn sơ nhất cũng không thể thiếu chùm cau, đĩa trầu. Sau lễ hỏi, nhà gái dùng cau, trầu không, trà bánh của nhà trai đưa sang để biếu họ hàng, làng xóm như một lời báo cưới.

“Miếng trầu ăn kết làm đôi

Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng

Trầu xanh, cau trắng, chay hồng

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên…”.

20150807112507-26

Với người con gái, với họ hàng nhà gái, cau trầu còn được coi là biểu tượng của sự tiếp đón danh giá, là sự tôn trọng của họ nhà trai dành cho bên thông gia.

Ngày giỗ, ngày tết, ngày sóc, ngày vọng bao giờ trên ban thờ gia tiên cũng có đĩa trầu cau. Hai quả cau và một lá trầu, đó là nghi lễ thờ sinh thực khí trong tín ngưỡng phồn thực của người Việt xưa (với mong muốn gia đình, dòng tộc sinh sôi, nảy nở). Hai quả cau và một lá trầu trên bàn thờ, chứ không phải muốn đặt bao nhiêu cũng xong như một số người vẫn làm.

Ăn trầu là thói quen của nhiều phụ nữ Việt Nam lớn tuổi. Tùy theo kinh tế và sức khỏe, cách thức ăn trầu cũng có khác nhau. Ở ngoài Bắc, người có điều kiện thì chọn lựa các thức để ăn trầu khá công phu. Phải là cau bánh tẻ, quả tròn đều, bổ ra thì nửa màu nửa hạt, thường là cau tỉnh Đông (Hải Dương). Lá trầu phải là loại trầu quế, lá nhỏ, vừa thơm vừa cay. Cau và trầu phải tươi, xanh mướt, không tì vết. Vôi ăn trầu phải là vôi xứ Đoài (Sơn Tây) và phải có khúc vỏ đỏ hoặc vỏ chay, một loại dây rừng trên Thái (Thái Nguyên). Ở miền Nam thì lá trầu nổi tiếng nhất được trồng ở 18 thôn Vườn trầu (xã Bà Điểm, Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh) do thổ nhưỡng ở đó rất hợp với cây trầu và càng ngon khi ăn với thuốc lào Gò Vấp (thuốc Gò). Ở miền Trung thì trầu và cau là đặc sản của Tây Sơn Thượng đạo và Tây Sơn Hạ đạo. Ngon nhất là trầu nguồn và cau chuột do người Thượng (đồng bào các dân tộc Tây Nguyên) trồng và mang xuống bán, đổi hàng. Tại bến Trường Trầu bên bờ sông Kôn (Bình Định), Nguyễn Nhạc nối nghiệp cha buôn trầu cau với người Thượng, dân trong vùng gọi là anh Hai Trầu. Do buôn trầu, có điều kiện gặp gỡ nhiều người nên Nguyễn Nhạc đã giao kết được với nhiều anh hùng, hào kiệt trong thiên hạ để rồi cùng các em Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (Tây Sơn tam kiệt) tiến hành khởi nghĩa, đánh đuổi 5 vạn quân Xiêm và 29 vạn quân Mãn Thanh xâm lược, dựng nên “Tây Sơn triều đại, Vạn thế vinh quang”.

Cây quả ngon, trở thành đặc sản, ngoài giống cây còn do nông hóa, thổ nhưỡng ở từng vùng đất tạo nên, cộng với kỹ thuật chăm sóc của người chủ vườn. Trầu là cây thuộc họ Hồ tiêu,  lá mọc so le, phiến lá hình trái tim. Cây trầu dùng để ăn trầu có hai loại: Trầu mỡ và trầu quế. Trầu mỡ lá to bản, xanh mướt, dễ trồng. Trầu quế lá nhỏ bản, vị cay thơm, rất được các bà, các chị ưa dùng. Trầu là một loại cây trồng khó tính, chỉ ưa nước ngọt và phải là nước sạch, nước phèn (chua) một chút cũng không chịu được. Đất trồng phải cao ráo, không được ngập nước, “Trồng trầu thì phải khai mương” là vì vậy. Độ ẩm của vườn trầu phải luôn được giữ ở mức trung bình, không được để khô hạn. Phân hóa học không thích hợp, chăm bón cho cây trầu chỉ được sử dụng phân chuồng, phân xanh,  đặc biệt là dùng phân tằm dâu trộn lẫn với thân lá cây dâu băm nát sẽ cho lá trầu rất ngon. Phân chuồng, phân xanh bón cho cây trầu phải được ủ cho hoai (mục). Loại cây dùng làm gióng trầu (làm nọc cho cây trầu leo hoặc làm giàn trầu) cũng phải chọn lọc. Cây nọc phải là cây thân gỗ vững chắc, tốt nhất là được đốt cháy sém bên ngoài (nọc cháy sém cho lá trầu ngon hơn vi các “tay” trầu đều có rễ phụ để bám hút chất dinh dưỡng).  Nếu vật liệu làm một giàn trầu khan hiếm thì có thể dựng cột gạch thay thế. Giàn trầu cần được che bớt nắng vì ánh sáng trực tiếp không thích hợp với cây trầu.

3

Cây cau ăn trầu, gọi thế vì Cau có tới 202 chi với 2.600 loài: cau vua, cau đuôi chồn, cau bụng, Cau vàng, cau đỏ, cau trắng, cọ dầu, cọ bắp cải, dừa, mây … Cau ăn trầu là cây thân gỗ, thân trụ, không có cành nhánh, cao tới 20m, lá rụng theo kỳ và chỉ còn ở ngọn, phiến lá xẻ lông chim. Cau chịu được nắng, không kén đất và ít tốn diện tích, ít bị sâu bệnh. Cau ăn trầu có 2 loại: Cau thường, đốt lá thưa, nhanh cao và Cau lùn (cau hương) có đốt lá rất dày, thân thấp, mập. Lá cau ít rụng và có rụng thì lá cau cũng được tận dụng làm chổi quét nhà (tuốt phần thịt lá, lấy cuống, bó lại thành chổi), bẹ lá làm quạt mát mùa hè, mo cau (mo của buồng quả) dùng để nắm cơm thì cơm nắm vừa dẻo vừa thơm. Cây cau thường được trồng trước nhà để tạo cảnh quan “chuối sau, cau trước”. Hoặc một vài cây trong hàng cau trước cửa có thể trồng cây trầu cho dây trầu quấn quanh thân cau hoặc đặt một lu sành dưới gốc cau và buộc một miếng bẹ lá cau quanh thân để hứng nước mưa từ cây cau là cảnh thường thấy ở nông thôn Việt Nam. Tại nhà lưu niệm Tổng Bí thư Đảng CSVN Nguyễn Văn Cừ ở Bắc Ninh vẫn trồng cau, để lu nước như ngày xưa vậy.

Quay lại việc ăn trầu. Trầu têm là dành cho người khỏe răng. Trầu giã trong cối trầu là dành cho người già, người răng yếu. Hương và vị của trầu, cau, vôi, vỏ và thuốc lào làm cho người ăn trầu dễ say say, người nam thêm cởi mở chuyện trò, người nữ thêm “lúng liếng là lúng liếng ơi”.

Ăn trầu tạo nên những làn môi cắn chỉ quết trầu duyên dáng, làm say lòng trai làng: “Những nàng môi cắn chỉ quết trầu”(Hoàng Cầm)… Trầu có thể được mời nhau bất kỳ ở đâu nên bộ đồ ăn trầu cũng được các bà, các chị luôn đem theo người. Cơi Trầu (Âu trầu) được gò bằng đồng thau hoặc bằng gỗ sơn son khảm xà cừ. Nếu ngồi ở nhà thì dùng Bình Vôi, thường là làm bằng gốm hoặc sứ; nếu đi xa thì mang theo Ống Vôi, bằng đồng thau. Lấy vôi trong bình thì dùng Chìa Vôi, bằng tre. Ngồi ở nhà, chủ nhà còn có thêm Ống Nhổ để người ăn trầu nhổ bỏ nước trầu (gọi là cổ trầu) và bã trầu. Một vật dụng rất quan trọng là Dao Cau. Dao bổ cau phải rất sắc bén, sắc như lời ví  “Mắt sắc như dao cau” để có thể xén vỏ cau, để cắt lá trầu khi têm, cài thành cánh phượng. Dùng dao cau nhể vỏ xanh của quả cau thành từng dảnh quanh núm cau rồi xén khoanh một vòng quả ở 1/3 phía dưới để có quả cau nửa trắng (thịt quả) nửa xanh (vỏ quả), rồi tiện núm cau trước khi bổ quả cau thành nhiều miếng, thật đều và không vỡ hạt. Người già, người răng yếu không nhai được thì có thêm Cối Giã trầu, đúc bằng đồng thau, có thêm cây ngoáy thật cứng, đầu xẻ sắc như dao để cắt nghiền nhỏ trầu cau. Thời chống Mỹ, các bà má Nam bộ vừa ngồi ngoáy trầu, miệng bỏm bẻm nhai trầu vừa thông báo tình hình giặc, chỉ huy bộ đội đánh giặc, hình ảnh đó thật hào hùng. Vào mùa cau, người ta phải bổ cau và sấy, phơi khô để dành ăn dần hoặc bán đi các vùng xa. Ăn cau khô thì không thể ngon bằng ăn cau tươi, tất nhiên là vậy, và lá trầu thì phải luôn tươi, không thể để dành.

nguoiduatin-15

Vài chục năm nay, người Việt đã để răng trắng, nhưng ăn trầu thì răng trắng sẽ rất nhom nhem, không ra trắng, không ra đỏ. Vì thế, dù rằng tục nhuộm răng đen là một cách trang sức của người xưa còn ăn trầu lại thuộc về lễ nghi, xã giao nhưng hai tục này từ lâu đời đã luôn gắn với nhau. Người xưa coi răng đen mới là đẹp:

“Những cô hàng xén răng đen

cười như mùa thu tỏa nắng”

                                                                 (Hoàng Cầm- Bên kia sông Đuống)

Vì vậy mà ở những thế kỷ trước, răng trắng là ngộ lắm và bị coi là “răng trắng như răng Ngô (người Tàu)”. Người xưa quan niệm “Cái răng cái tóc là góc con người” nên ăn trầu còn là để bảo vệ răng nữa. Trầu cau và vôi làm hàm răng chắc khỏe, không bị tụt lợi, ít bị sâu răng. Trầu và cau còn được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh: Hoa cau trị ho, trợ tim, gan, dạ dầy; hạt cau tẩy giun sán; rễ cau (loại rễ nổi trên đất) chữa liệt dương; rễ cau phối hợp với rễ trầu chữa tiểu rắt, tiểu són …Lá trầu có thể chữa lành các vết loét, trị chứng đau đầu, giải cảm …Lá trầu còn dùng để nhuộm áo ngụy trang hay được dùng thời chống Mỹ.

  “Anh lên đường, mẹ xin nắm trầu nhuộm áo cho anh

Một lá trầu xanh thắm tình em chẳng phai màu…

(nhạc phẩm Hoa cau vườn trầu của nhạc sĩ Nguyễn Tiến).

 Đã qua thời phát đạt của nghề trồng và buôn bán trầu cau nhưng vẫn có nhiều hàng cau trầu ở chợ các miền quê, vẫn có những khu buôn bán trầu cau ở các chợ thị thành. Chợ trầu thường chỉ đông buổi sáng vì muốn có lá trầu tươi thì phải soi đèn hái từ tối hôm trước hoặc sáng sớm cho kịp chợ. Chợ trầu Lê Quang Sung (quận 6, thành phố Hồ Chí Minh) nằm trên đường Lê Quang Sung, các ngày trong tuần đều họp nhưng đông nhất là thứ 6 và đặc biệt đông là dịp tết. Hải Phòng không chỉ nổi tiếng vì có thuốc lào Tiên Lãng mà còn có cau trầu Thủy Nguyên. Ở Hà Nội hiện nay, mua trầu cau để ăn có thể ra chợ Bắc Qua, chợ hàng Bè, hàng Da… mua trầu cau cưới thì ở phố Hàng Than, phố hàng Gà … Còn ở xứ Đoài xưa (nay thuộc Hà Nội) thì tục ăn trầu vẫn được duy trì nguyên vẹn, truyền đời ở làng Phú Lễ (xã Cần Kiệm, Thạch Thất, Hà Nội). Đến Huế thì thời xưa, trong cung đình cũng như ngoài thôn quê, ai cũng ăn trầu, từ vua quan cho đến nông phu. Làng quê Huế đến giờ vẫn ngát xanh trầu cau:

“Sao anh không về thăm thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên” (Hàn Mặc Tử)

Vào thời buổi công nghiệp hóa này, trầu cau cũng được công nghiệp hóa, chỉ cần vào Google để gõ “trầu cau cưới hỏi” thì sẽ thấy rất nhiều nhà chuyên nghiệp lo việc trầu cau trọn gói. Dù là đã có người lo trọn gói, cô dâu không cần têm trầu, chú rể không cần leo cây hái cau nhưng tình ý trong quả cau, lá trầu vẫn tròn đầy, vẫn xanh mướt. Cau trầu với người Việt muôn đời vẫn là biểu tượng của tình người, của tình anh em ruột thịt, của tình yêu vợ chồng. Miếng trầu luôn là biểu tượng khởi đầu cho một mối lương duyên nên trầu cau còn được các chàng trai, cô gái mượn để tỏ nỗi lòng với người mình thương thầm nhớ trộm:

Anh thương em rồi sao anh chẳng nói,

 để hoa cau rụng trắng đêm trăng buồn.

mà hương cau ngan ngát quanh vườn trầu.

Lá vẫn xanh tươi màu. Xin ai đừng để lá trầu vàng…”

(nhạc phẩm Hoa cau vườn trầu của nhạc sĩ Nguyễn Tiến).

Những vườn cau, những giàn trầu dần lùi xa thành thị, dần lui lên vùng cao, nhưng với các dân tộc  Việt, dù ở thị thành hay nông thôn, dù ở đồng bằng hay núi cao, dù ở xa xôi xứ người thì văn hóa trầu cau với ý nghĩa nhân văn giàu có vẫn mãi trường tồn. Ý nghĩa của trầu cau vẫn tiếp tục giáo dục con cháu chúng ta sống tình nghĩa, thủy chung. Triết lý sống đó sẽ tiếp sức cho các đời sau thêm sức mạnh để tiến nhanh hơn trên con đường hội nhập với thế giới.

Lê Nguyên Hợp

Nguồn: Tạp chí XD&CS

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bạn có thể sử dụng các thẻ HTML và thuộc tính sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>