34 C
Hanoi
Thứ Hai, 17/06/2019
PETRONEWS
Trang chủ » Đời sống » Nhịp sống muôn màu » Ngày Tết nói chuyện Trầm hương
Nhịp sống muôn màu

Ngày Tết nói chuyện Trầm hương

Thích và chia sẻ:

Thắp hương đã là một tập quán, một nghi thức mà hầu như mọi người dân Việt đều biết, đều tin rằng khi nén hương được đốt lên là tạo nên một nhịp cầu nối liền giữa con cháu hiện hữu với tổ tiên đã khuất, giữa con người nhỏ bé với thần thánh siêu nhiên. Nén hương thơm được người Việt thắp ở những nơi được coi là linh thiêng: Trên bàn thờ tổ tiên, trên bàn thờ Phật, trong các đền đình thờ thánh thần, trên bàn thờ Thiên, trên mộ của những người thân đã khuất…

Có thể là từ hương thơm tỏa ra khi đốt củi rừng mà người xưa đã tìm được các loài cây cỏ tỏa hương thơm để chế ra các loại hương: Trầm, trám, hương bài…  hoặc là trộn với các loại dầu, nhựa cây có mùi thơm để tạo ra các loại hương có mùi thơm đặc trưng: Hổ phách, Long diên hương, Mộc hương, quế, hồi … Lần đầu tôi thấy cách làm hương là năm 1971 khi đóng quân tại Quảng Bình, ông chủ nhà đã nghiền thành bột một loại rễ cây, nhúng tăm hương vào chậu bột hồ và tẩm bột rễ thơm, làm như vậy vài lần rồi lăn nhẹ để hình thành nén hương, rồi đem phơi khô. Nén hương của ông làm, khi đốt tỏa ra mùi thơm dịu nhẹ, ngan ngát mùi lan. Thật lạ, lạ về mùi hương thơm, lạ cả về cách làm hương, rất khác với cách làm phổ biến ở ngoài Bắc mà sau này tôi được biết. Có lẽ khi đó đang chiến tranh, cuộc sống vất vả và cũng là tự sản tự tiêu nên cách làm hương của ông chủ nhà khá đơn giản. Sau này, tìm hiểu thêm về cách làm hương ở ngoài Bắc thì thấy phức tạp hơn nhiều. Để làm nén hương thơm, người ta không thể chỉ dùng mùn cưa trộn với bột trầm (đã có cửa hàng bán những thẻ hương làm toàn từ mùn cưa rồi). Theo các nhà sản xuất hương nổi tiếng, nguyên liệu làm hương phải được lựa chọn cẩn thận, toàn loại thật tốt từ 40 đến 60 loại vỏ, lá, rễ cây. Các loại nguyên liệu này được phơi khô, xay thành bột thật nhỏ mịn. Từ những loại bột đó, tùy theo kinh nghiệm của mỗi nhà sản xuất mà pha trộn các loại theo các tỷ lệ khác nhau để có các loại hương với mùi thơm đặc trưng của từng nhà sản xuất. Chỉ riêng trầm để làm hương thôi cũng được phân loại, đánh giá chất lượng khá phức tạp. Hương trầm là loại hương quý, rất đắt tiền và cũng được chia thành ba hạng theo nguyên liệu trầm được sử dụng: Kỳ, Trầm và Tốc. Hương hạng Kỳ Nam lại được chia thành 4 loại: Bạch kỳ, Thanh kỳ, Huỳnh kỳ và Hắc kỳ. Mức quý, hiếm và đắt giá tăng dần từ Hắc tới Bạch. Hương hạng Trầm được chia thành 6 loại: Sáp trắng, sáp xanh đầu vịt, sáp xanh, sáp vàng, sáp vằn, sáp vàng đốm và giá trị cũng tăng dần từ Đốm tới Trắng. Hương hạng 3 là Tốc, tức là mức độ nhiễm dầu trong gỗ trầm, có nhiều loại Tốc nhưng về chất lượng thì Tốc Đỉa là cao nhất, sau đó là Tốc Dây, TốcHương, Tốc Pi …

Ngoài việc đốt bột trầm hoặc đốt nguyên miếng trầm thì có ít nhất ba loại hương được sản xuất phổ biến là hương nén, hương vòng và hương tháp để phù hợp với từng nghi thức cầu cúng khác nhau. Hương Nén phải có tăm hương làm từ tre, nứa. Tăm hương cũng được nhuộm chân bằng phẩm đỏ hoặc vàng. Bột hương được trộn thật dẻo. Trên các bàn mặt nghiêng, bột hương được lăn bằng bàn xoa cho cuộn đều, tròn quanh các tăm hương. Sau khi được lăn bột hương và bột chống dính, các nén hương được phơi trên giàn hoặc buộc thành từng bó, xòe chân khi phơi nắng tạo nên một bức tranh màu thật đẹp. Làm hương trầm chủ yếu là làm thủ công, bụi bặm, mỏi tay mỏi lưng nhưng làm thủ công thì hương mới nguyên vẹn mùi thơm, cháy đều, khói nhẹ, mỏng. Làm bằng máy thì năng suất cao hơn nhiều nhưng mùi hương thơm cũng giảm nhiều, khói nhiều, cháy lâu tàn hơn hương thủ công truyền thống vì bột hương bị nén rất chặt nên khi cháy không còn đúng nghĩa của “một tuần hương” nữa. Hương Vòng thì yêu cầu cao hơn. Trước đây tôi vẫn tưởng hương vòng phải có tăm mềm (như lạt chẳng hạn) để làm lõi, té ra là không phải. Các loại bột làm hương vòng được trộn đều với bột keo tạo thành một hỗn hợp bột dẻo, dai và được nén thành củ, rồi ép thành nhĩ (dạng sợi dai và dẻo), rồi cuốn thủ công thành vòng. Hương Tháp thì được nén tay trong khuôn để thành những khối chóp nhọn to nhỏ tùy nhu cầu. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, người dân vẫn dùng loại hương đen làm từ nhựa Trám. Hương Trám có mùi thơm ngai ngái đặc trưng và chỉ có hai loại: Hương nén nhỏ và hương sào (nén to, dài).

Thắp hương thờ cúng là một nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các ngày sóc, ngày vọng, trong các dịp giỗ chạp, lễ tết của các dân tộc Việt Nam. Trong những ngày trọng đại đó, thắp nén hương trên bàn thờ tiên tổ, trên bàn thờ thần, phật và khấn vái, mọi người đều cầu mong lao động cần cù để có được một cuộc sống đủ đầy, yên ấm, mong luôn tu tâm dưỡng tính để cuộc sống thêm tốt đẹp. Nét đẹp văn hóa này đã được duy trì hàng ngàn năm nay và sẽ tồn tại mãi mãi với ước mong một xã hội an bình, một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc của mọi người. Nén hương được coi là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, cho sự biết ơn của những người đang sống với thế hệ đã khuất. Nén hương cũng chính là sợi dây liên lạc với thế giới tâm linh. Dù tin rằng “Phật tại tâm”, không phải vì quỳ lạy nhiều, cúng dường nhiều mà được thần phật “ưu tiên” nhưng ngày sóc, ngày vọng tôi vẫn dâng hương trên bàn thờ tổ tiên, bàn thờ Phật với tấm lòng thành kính. Hương thơm ngan ngát, khói hương lan toả nhè nhẹ, cảnh vật chung quanh trở nên mờ ảo làm tâm hồn lâng lâng như thoát tục, như nhắc nhở tôi phải sống lương thiện, sống có ích. Và như thế, cùng với nén hương đang cháy, tôi thấy như mình đang thắp lên trong lòng những nén tâm hương. Có lẽ đây cũng là cảm giác, là lời nhắc nhủ mà mọi người thành tâm khi cúng cầu tiên tổ, thần phật cảm nhận được. Với những người không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào thì sự cháy tàn của nén hương cũng nhắc nhở người ta rằng: Cuộc sống là ngắn ngủi, là vô thường nên cần phải sống sao cho khỏi ân hận, khỏi tiếc nuối khi cuộc đời chấm dứt.

Hương thơm không chỉ có những người thờ cúng tổ tiên sử dụng mà hương thơm còn được dùng trong nghi lễ của các tôn giáo. Với Phật giáo, hương là một trong sáu loại lễ vật dâng cúng trên bàn thờ Phật: Hương, hoa, đèn, quả, trà và thức ăn chay. Khói hương trước bàn thờ Phật là biểu tượng cho lòng thành kính của phật tử. Và tất nhiên, không phải cứ mâm cao cỗ đầy thì phật độ, mà chính là lòng thành kính của phật tử tuân theo những lời răn dạy phải sống thiện của Đức Phật để tu tâm tích đức. Phật không ở trong tượng, cũng không ở trong ảnh hình. Là phật tử thì ai cũng phải biết: Phật không có quyền năng ban phát lợi lộc hay trừng phạt chúng sinh. Phật chỉ là người giác ngộ, người chỉ đường vì “Ta là phật đã thành, chúng sinh là phật sẽ thành”. Tâm hương dường như cùng bay với khói hương trầm để chuyển tải những lời nguyện cầu, những thành quả tu tập của chúng phật tử đến chư Phật với niềm tin rằng mình sẽ thoát khỏi tham, sân, si…, hoàn toàn không phải là những cầu mong Phật ban cho sức khỏe, giàu có hay chức quyền. Với Thiên chúa giáo, việc xông hương là để diễn đạt sự cung kính và lời nguyện cầu lên Thiên chúa: “Ước chi lời con nguyện như hương trầm bay toả trước Thánh Nhan” (Thánh vịnh 142, câu 2). Người Thiên Chúa giáo xông hương trong các thánh lễ, trước bàn thờ, trước cuốn Kinh Thánh, mình Thánh, rượu Thánh và cả linh cữu của người đã mất … Việc xông hương còn có thể được sử dụng trong mọi nghi thức thánh lễ: Trong các thánh lễ nhớ buộc hay thánh lễ nhớ tùy và cả trong các thánh lễ thường ngày, bởi các giáo dân tin rằng những loài cỏ cây có hương thơm là do đã thấm nhuần hương thơm của Đức Chúa Trời. Với Ấn Độ giáo (Hinduism), hương thơm được các tu sĩ dùng lúc hành Thiền để tăng thêm sự tập trung, thanh lọc tinh thần và trợ giúp khai mở luân xa. Trong khi đó, đạo Phù Thủy (Wiccanism) lại dùng hương để tâm tưởng được trở về với thiên nhiên. Trầm hương là vật phẩm không thể thiếu, là vật phẩm đặc biệt trong nghi lễ tẩy rửa thánh đường Kaaba tại Thánh địa Mecca (Ả rập Xê út) của Hồi giáo. Với đạo Cao Đài, việc thắp hương là một nghi lễ quan trọng với 5 nén hương tượng trưng cho Ngũ hành trong vũ trụ (Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Với Phật giáo Hòa Hảo thì tín đồ thường kỳ thắp hương trên bàn Thông Thiên, cũng giống như tín ngưỡng của mọi người dân vùng Tây Nam bộ nước ta…

Cùng với nghi lễ dâng hương, xông hương, người ta còn đốt hương thơm (nguyên mảnh gỗ thơm) trong các bình hương, lư hương để tạo không khí trong lành, thơm tho trong các căn phòng của những nhà quyền quý hoặc để trị bệnh.

Như vậy, không chỉ với người Việt, không chỉ có trong tín ngưỡng dân gian của người Việt mà hương thơm còn rất quan trọng với nhiều dân tộc khác, nhiều giáo phái khác nhau trên thế giới. Ngoài một số trường hợp dùng hương thơm để trị bệnh thì chủ yếu hương được dùng trong các nghi lễ cầu cúng. Các vòng hương của hương vòng được tượng trưng cho các nấc thang nối con người với thần thánh. Việc thắp bao nhiêu nén hương trong lư hương lại tùy vào quan niệm của mỗi người, mỗi đạo nhưng thường là thắp theo số lẻ. Ba nén được cho là tượng trưng cho Thiên-Địa-Nhân, hay là tượng trưng cho Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) hay Tam thời (Quá khứ, hiện tại, vị lai) …Người ta có thể thắp 5 nén, 7 nén hay 9 nén với nhiều quan niệm, nhiều cách giải thích khác nhau. Tuy nhiên, thắp bao nhiêu nén hương thì cũng như nhau, vấn đề là người thắp hương, người dùng hương để thực hành nghi lễ phải thành tâm. Nếu ai đến chùa (đặc biệt là các ngôi chùa cổ có kiến trúc thấp và kín đáo) cũng thắp thật nhiều hương thì khói hương không thơm nữa mà trở thành yếu tố gây ô nhiễm không khí nhà chùa. Hiện nay các chùa đều có khuyến cáo Phật tử chỉ thắp một nén hương và thắp ở lư hương trước cửa chính điện, bởi trong chùa các sư, các ni đã thắp hương trước bàn thờ Phật.

Việc các chùa khuyến cáo Phật tử thắp ít nén hương tại chùa và tại gia cũng còn lý do khác. Do có quan niệm mê tín rằng tàn hương càng cuốn cong thì càng nhiều lộc. Quan niệm mê tín đó là lý do để những người sản xuất hương có “tâm độc” sẽ ngâm tăm hương vào hóa chất H2PO4 (axit photphoric). Chất hóa học này làm biến đổi các chất hữu cơ của tăm hương, thịt hương, làm hương cháy nhanh hơn, làm tàn hương cong hơn, lâu rụng hơn. Nhìn thì đẹp nhưng khói hương hóa chất này cực độc với mắt và phổi nếu tiếp xúc nhiều. Nếu bột làm hương lại sử dụng bột đá để tạo tàn trắng và hóa chất tạo mùi thơm (mà không phải là mùi thơm của thực vật tự nhiên) thì sự độc hại là không thể lường hết được. Trong cuộc sống từ ngàn xưa tới giờ, hương thơm luôn là vật phẩm quan trọng mang ý nghĩa tâm linh. Người dùng hương phải thành tâm để khi dâng hương thơm cũng là lúc dâng Tâm hương lên tổ tiên, thần thánh. Người làm hương cũng rất cần phải thành tâm để làm ra những nén hương thanh khiết, không để lợi lộc đen tối làm ô danh tổ tiên khi làm hại người khác. Đã sống bằng nghề làm hương thì không nên làm những việc thất đức đó bởi sớm muộn gì thì quả báo cũng nhãn tiền.

Thắp hương cầu nguyện là khi con người thả hồn vào thế giới tâm linh, nhớ về ơn đức của tiên tổ, xóa bỏ tà tâm, hướng tới một cuộc sống Chân, Thiện, Mỹ để trở thành những con người tốt trong xã hội./.

Lê Nguyên Hợp (tạp chí xuân 2019)

Thích và chia sẻ:


Viết bình luận